Hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm vợ nhặt

*

RSS
*

BÀI LÀM 1

Kim Lân là nhà văn của làng quê Việt Nam với cách viết chân chất, mộc mạc và những hình ảnh nhân vật điển hình cho làng quê. Văn của Kim Lân đi sâu vào lòng người đọc bởi tình cảm bình dị, rất đời thường nhưng chan chứa nghĩa tình. Tác phẩm“Vợ nhặt” là một “kiệt tác” của văn học hiện thực Việt Nam, tái hiện thành công xã hội nghèo khổ, cùng cực, bế tắc của người nông dân. Bằng bút pháp tả thực Kim Lân đã xây dựng thành công tuyến nhân vật đại diện cho cuộc sống bần cùng giai đoạn đó. Đó là nhân vật người vợ.

Bạn đang xem: Hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm vợ nhặt

Truyện ngắn“Vợ nhặt”của Kim Lân ra đời trong thời kỳ đất nước đang rơi vào nạn đói năm 1945, đời sống nhân dân bần cùng, kẻ sống người chết nham nhảm, người chết như ngả rạ, không buổi sáng nào người trong làng đi chơi, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vấn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Tác phẩm như đã tái hiện lên khung cảnh lúc đó, ở một xóm nghèo nhỏ, người dân sống cực khổ quanh năm , lại thêm cảnh chèn ép bắt đóng thuế… nhọc nhằn sao kể xiết.

Ngay từ nhan đề của tác phẩm, Kim Lân đã dẫn người đọc khám phá cuộc sống của những con người nghèo khổ trong xã hội Việt Nam. Là“vợ nhặt”, là chi tiết và là tình huống truyện thắt nút cho diễn biến xoay quanh nhân vật người vợ trong tác phẩm. Từ “nhặt” mang lại cho đọc giả cái cảm giác rẻ rúng, bèo bọt của phận làm nữ nhi, gợi lên niềm xót thương cho số phận con người.“ Vợ nhặt”nghe quá đỗi chân thực và vẽ lên hình ảnh người phụ nữ có một cuộc sống khó khăn, chẳng được hưởng hạnh phúc tròn vẹn khi ngay cả một đám cưới nhỏ cũng không có hay chính xác hơn là một mâm cơm ngon cũng chỉ như giấc mộng hão huyền ngày cô về làm dâu nhà người ta.

Mở đầu truyện ngắn, tác giả đã phác họa hình ảnh nhân vật anh cu Tràng“hắn bước đi ngật ngưỡng, vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai bên quai hàm bạnh ra…” Chỉ với vài chi tiết đó, người đọc cũng đã hình dung được diện mạo xấu xí của một anh nông dân nghèo rách mùng tơi. Từ ngày nạn đói hoành hành, đám trẻ con không buồn trêu tràng nữa, vì chúng đã không còn sức lực. Bởi cuộc sống quá khó khăn, đói kém con người ta trở nên càng mệt mỏi , chán nản, từ già trẻ, gái trai đều đem sự khắc khổ của đời mà ghim vào những nếp nhăn , nếp chân chim, và làn da rám nắng , thân thể gầy gò quắt queo. . Trong khung cảnh chiều tà, suy nghĩ của Tràng được tái hiện “hắn bước đi từng bước mệt mỏi, cái ao nâu tàng vắt sang một bên cánh tay. Hình như những lo lắng, cực nhọc đè nặng lên cái lưng gấu của hắn”. Và bỗng một hôm hắn dắt về một người đàn bà lạ hoắc không một ai trong xóm nhỏ quen biết. Dưới ngòi bút miêu tả của nhà văn đầy ám ảnh“ thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén,e thẹn”. Một người đàn bà nghèo khổ, không còn thứ gì giá trị đi cạnh một người đàn ông nghèo khổ, cùng cực đúng là một đôi trời sinh.Tưởng chừng Thị là một người phụ nữ táo bạo vô duyên nhưng thực chất cũng vô cùng e lệ và suy nghĩ như một người phụ nữ. Cắp thúng con theo Tràng về, nàng dâu mới cũng bẽn lẽn theo sau, khi bị trêu chọc cũng e thẹn như bao nàng dâu mới khác. Về đến nhà, khi được Tràng mời ngồi thị chỉ ngồi mớm ở giường, tay vân vê và bộ mặt lộ rõ vẽ đầy lo lắng. Chắc có lẽ thị nghĩ về cuộc sống mới của hai vợ chồng, rồi cuộc đời của thị sẽ đi đến đâu

Khi trở về nhà, hình ảnh bà cụ Tứ, mẹ Tràng được Kim Lân khắc họa diễn biến và sự chuyển đổi trong tâm tinh thật tài tình và sâu sắc. Người đọc sẽ hiểu hơn tấm lòng một người mẹ bao dung và hiền hậu. Chi tiết“bà lão phấp phỏng bước theo con vào nhà, đến giữa sân bà sững lại vì thấy có một người đàn bà ở trong…”Sự băn khoăn lo lắng của bà cụ bắt đầu hiển lên. Nhưng rồi bà cũng nhận ra, cũng hiểu “bà lão cúi đầu nín lặng, bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán, vừa xót xa cho số kiếp con mình. Chao ôi người ta dựng vợ gả chồng cho con là trong lúc làm ăn nên nổi, còn mình…” Những suy nghĩ chua xót của bà lão được Kim Lân diễn tả qua một loạt động từ tình thái khiến cho cái khổ, cái đói lại vồ vập và hiển hiện rõ ràng hơn bao giờ hết. Thế nhưng vì thương con , lại một chữ“thương” mà bỏ qua tất cả để người mẹ chấp nhận cuộc sống vất vả, khổ cực có thêm một miệng ăn và bà cũng thương cả hai con người trẻ tuổi trước mặt mình: “Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót.Nó bây giờ là con dâu trong nhà rồi”. Có hai tình huống xảy ra mà khiến độc giả có lẽ không cầm được nước mắt, đó là khi nhà ăn bữa cơm đầu tiên đón nhận thành viên mới và lúc bà mẹ già bưng nồi ‘‘chè khoán’’ nghi ngút khói ra đặt cạnh mâm cơm. Trong cái thời nạn đói , người chết như rạ ấy thì một bữa cơm đúng nghĩa quả thực rất khó để có trong một gia đình như của Tráng. Bữa cơm bao gồm“giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà ăn đều rất ngon lành’’. Thật sự là nghèo khó đến bần cùng cạn kiệt. Ngượi vợ vẫn ăn mà không một câu than phiền. Xuất thân của thị cũng có hơn gì ai. Thị cũng nghèo khó, gầy gò và vì tình thương mà đến làm vợ , làm con dâu nhà người ta. Thị cũng là một người vô cùng đảm đang và tháo vát. Khi về nhà Tràng, buổi sáng sớm tinh mơ, thị đã dậy sớm để cùng bà dọn dẹp và sửa sang lại căn nhà vườn tược. Dường như thị muốn vun vén cuộc sống của gia đình và bắt đầu môt cuộc sống mới. Thị cũng rất vui tính và hòa nhập nhanh với cuộc sống mới. trong bữa ăn, thị kể nhiều câu chuyện, có cả câu chuyện cướp kho thóc nhật, từ đó dấy lên bao niềm khát khao hi vọng tự do của những người dân nghèo khó. Một bữa cơm đón dâu nghèo nàn đến đáng thương. Tình huống khiến người đọc nhớ mãi, hình ảnh khiến người đọc khi nhắc đến tác phẩm này đều không quên là hình ảnh “nồi cháo cám” trong buổi bữa cơm đón dâu dầu tiên. Hình ảnh “nồi cháo cám” là hiện thân của cái đói nghèo đến cùng cực trong một gia đình “không còn gì giá trị nữa. Ai cũng muốn có một bữa cơm đón dâu có mâm cao, cỗ đầy trong ngày rước dâu nhưng gia cảnh nghèo nàn, “nồi cháo cám” là thứ duy nhất đong đầy yêu thương bà Tứ có thể mang lại cho con. Và có lẽ trong thâm tâm người‘‘vợ nhặt’’cảm thấy xúc động thêm thương xót cho những con người trong gia đình này. Hoá ra cái đanh đá, trở trẽn trước kia ở người đàn bà Tràng lấy làm vợ chẳng qua là do đói do khát mà ra. Khi được sống trong tình thương, trQua truyện ngắnVợ nhặt, Kim Lân đã khắc họa nhân vật người phụ nữ vợ nhặt rất thành công. Tác giả chú trọng khắc họa hành động, cử chỉ, nét mặt của nhân vật để người đọc hiểu được tâm lí của người phụ nữ. Nhà văn lựa chọn được những chi tiết rất phù hợp để bộc lộ số phận cũng như vẻ đẹp của nhân vật. Nhân vật vợ nhặt nắm giữ vai trò khá quan trọng trong việc làm nổi bật chủ đề tư tưởng của tác phẩm đồng thời có vai trò quyết định trong việc hình thành nên tình huống truyện.ong mái ấm gia đình, người đàn bà ấy đã sống với bản chất tốt đẹp vốn có của mình, của một người phụ nữ Việt Nam.

BÀI LÀM 2

Khi nhắc đến tác giả Kim Lân ta như nhìn thấy được những mảnh đời cơ cực, những chiến sĩ, những người nông dân,…ông chính là một nhà văn xuất chúng của nền văn xuôi hiện đại được sinh ra trong thời kỳ trước và sau cách mạng tháng Tám. Trong đó không thể nào không nhắc đến tác phẩm truyện ngắn “Vợ Nhặt”, một câu chuyện chân thực, nó tái hiện vô cùng thành công cuộc sống ảm đạm, khủng khiếp của nạn đói Ất Dậu năm 1945 của đất nước ta. Một tác phẩm khiến ai đọc cũng phải rùng mình vì xót xa.

Câu chuyện được mở đầu trên cái nền vô cùng tăm tối và đau thương. Kim Lân đã vẽ ra hình ảnh một nhân vật người phụ nữ- người “Vợ nhặt” nghèo đói, đầy bất hạnh nhưng lại toát lên một khát vọng sống vô cùng mãnh liệt. Và để sống, chị đã chấp nhận theo một người đàn ông cũng nghèo khổ về làm vợ giữa ngày đói mà không cần một cái lễ gì. Nhìn người phụ nữ, người vợ lúc đó, ta sẽ thấy một số không tròn trĩnh, không tên, không tuổi, không quê hương, không nghề nghiệp,…đang tha phương, nay đây mai đó không biết đi đến đâu. Cảnh ngộ xuất hiện một người vợ nhặt thật lạ nhưng cũng thật quen với hoàn cảnh lúc bấy giờ. Kim Lân không đặt tên cho nhân vật người vợ nhặt, xuyên suốt cả tác phẩm, ông gọi cô là “thị” đây là một cách gọi phiếm định, dành cho tất cả những người phụ nữ đang trong hoàn cảnh này, một cảnh ngộ và số phận vô cùng đáng thương và tội nghiệp, họ đang bước đi từng bước nặng nhọc, chịu đựng để chống chọi với cơn đói khát. Thân xác người vợ nhặt hiện ra với thân hình gầy gò ốm yếu, ngực lép gầy, khuôn mặt lưỡi cày lúc đó xám xịt và quần áo thì rách rưới không đủ che đi tấm thân. Nhìn hình ảnh người vợ nhặt, ta như thấy rõ được nạn đói năm 45, nạn đói lịch sử cướp đi cuộc sống của biết bao người dân Việt Nam lúc bấy giờ.

Xem thêm: Download Phần Mềm Hát Karaoke Trên Máy Tính Với 3299 Bài Hát

“Thị” được Kim Lân xây dựng với hai luồng tính cách khác nhau. Trước khi trở thành vợ của Tràng, thị là một người phụ nữ mạnh mẽ, táo bạo trong giao tiếp và chút gì đó liều lĩnh. Lần đầu tiên, khi Tràng gặp “thị”, thì chính thị là người chủ đậu làm quen, cũng chính thị đã chủ động đẩy xe bò giúp Tràng. Lúc đó, thị vui vẻ, thị “liếc đôi mắt cười tít” với Tràng. Đến lần gặp thứ hai, bất ngờ từ đâu thị “sầm sập chạy tới” trước mặt Tràng, miệng sưng sỉa lên nói, dáng đứng thì cong cớn. Đã vậy, thị còn chủ động đòi ăn, khi được Tràng mời ăn bánh đúc thị đã ăn một mặt hết bốn bát bánh đúc mà không ngẩng lên bao giờ. Ăn xong, thị lấy đũa quẹt miệng, khen ngon và tỏ ra hạnh phúc. Vì đói, thị không sợ mất thể diện “đòi ăn”, một khát khao mãnh liệt được sống. Cái đói như biến con người ta thành một người khác, biến đổi tính cách con người. Kim Lân chắc chắn phải thật sự cảm thông và xót xa trước cảnh ngộ đói nghèo đó của người lao động thì mới có thể lột tả được đúng tâm trạng của “thị” như vậy. Nhưng khi trở thành vợ Tràng, “thị” như trở thành một con người hoàn toàn khác, trở lại một người đàn bà hiền thục, lễ phép, đảm đang, biết e lệ, khép nép. Dễ dàng nhận ra điều đó qua dáng vẽ tội nghiệp cứ bẽn lẽn khi thị ở bên cạnh Tràng vào lúc trời chàng vạng sáng. Hình ảnh thị đi theo sau, chiếc nón rách cứ che nghiêng, như muốn che đi sự e thẹn, ngượng nghịu, đôi chân như không nghe lời, cứ bước díu từ chân nọ đến chân kia…nhìn cảnh đấy ta thấy thật tội nghiệp cho nàng dâu mới. Không xe hoa, cũng chẳng pháp cưới, những người xung quanh với khuôn mắt u tối hốc hác, xen vào đó là âm thanh của quạ, tiếng khóc tiễn người chết đầy tang thương,…Nhưng sáng sớm hôm sau, thị đã phần nào quen với cảnh có chồng, thị dâỵ sớm quét tước dọn dẹp căn nhà đơn sơ. Hình ảnh này như gợi lên một người vợ biết lo toan, vun vén cuộc sống gia đình. Một người vợ hiền lành, một cô dâu thảo. Bữa cơm đầu tiên bước về nhà chồng, bữa cơm của ngày đói, bữa cơm chỉ có cơm độn sắn, nhưng đối với thị lại ấm ấp, thơm ngọt. Thị kể cho mẹ chồng và chồng nghe câu chuyện người dân Bắc Giang cùng nhau đi phá kho thóc Nhật, ánh mắt ánh lên niềm hi vọng, và cũng nhờ vào đó mà tiếp thêm sức mạnh cũng niềm tin vào sự đổi mới trong tương lai cho hai mẹ con Tràng.

Chính tấm lòng giàu tình nhân ái, tình yêu thương của Tràng và mẹ Tràng đã giúp cho “thị”- người phụ nữ không tên tuổi, không có gia đình, người thân sống lang thang cơ nhỡ, có một mái ấm, có một sự đổi đời. Thị chính là hiện thân cho sự ấm áp về cuộc sống gia đình, niềm tin vào cuộc sống tăm tối của người nghèo khổ đang đứng trước vực thẳm của cái đói, cái chết. Kim Lân đã rất tinh tế khi xây dựng thành công hình tượng nhân vật “vợ nhặt”.

BÀI LÀM 3

Người vợ nhặt là nhân vật có cùng tên với đoạn trích của Kim Lân, được viết trong bối cảnh nạn đói hoành hành khắp mọi nơi, người chết như ngả rạ. Nhưng nhen nhóm lên trong bối cảnh đầy u ám và buồn bã đó, thì lại nổi bật lên câu chuyện đẹp về tình yêu, về gia đình và về tương lai đầy hy vọng của những con người dân ngụ cư. Đi cùng với Tràng, bà cụ Tứ thì nhân vật thị trong vợ nhặt cũng để lại nhiều ấn tượng cho người đọc và đồng cảm sâu sắc từ phía độc giả.

Câu chuyện lấy đi cảm xúc của nhiều người và dẫn dắt độc giả đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Tinh huống truyện tưởng chừng như vô lý lại xuất hiện một cách tự nhiên như chưa từng có sự bất hợp lí nếu đi ra ngoài đời thật. Câu chuyện Tràng nhặt được vợ, hay nói cách khác, vợ Tràng theo không Tràng về sau mấy lần gặp gỡ đã khiến cho câu chuyện thêm phần lí thú và tạo nên điểm nhấn cũng như giá trị nhân văn cho toàn tác phẩm.

Người vợ nhặt xuất hiện trong đoạn trích cùng tên là một người phụ nữ bình thường và quen Tràng khi Tràng đẩy xe bò đi qua, hò mấy câu chơi cho đỡ mệt. Người phụ nữ đó trong thời kì đói kém loạn lạc, mấy lần gặp Tràng cũng vô cùng dạn dĩ và không tỏ ra mình là người sợ hệt hay xấu hổ. Thị gặp Tràng lần thứ hai thì đã trách vốn anh rồi ngồi vào bàn ăn một chập bốn bát bánh đúc. CÓ thể nói bây giờ điều mà thị có thể nghĩ đến là làm sao cho cái bụng của mình đừng cồn cào, cái đói khiến cho một người phụ nữ lẽ ra cần nhận thức rõ thân phận và con người của mình cũng vào ngồi ăn như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Người phụ nữ được đặt trong tình huống này dường như trở nên vô duyên giạn dĩ chẳng thể nghĩ ra điều gì khác là ăn và làm sao cho cái bụng không đói nữa.

Cái đói đã khiến cho khuôn mặt thị gầy như lưỡi cày và ngực lép xẹp, khuôn mặt u tối hẳn ra, không phủ nhận rằng, cái đói đã khiến cho con người khác đi hẳn. Tràng gặp thị, nghe thị trách móc nhưng không nhận ra mãi sau lờ mờ mới nhận ra bởi vì Thị khác quá. Cũng vì cái đói cho nên người ta mới cảm nhận được rõ rệt rằng mọi lời nói đều có giá trị. Tràng giả vờ nói bâng quơ rằng thị có về với Tràng không ai ngờ thị theo thật. Thị phó mặc cuộc đời mình vào tay một người đàn ông xa lạ. Biết đâu trong cơn nguy khó, Tràng lại có thể cứu rỗi đời thị một lần nữa. Chuyện bây giờ là làm sao để qua cơn đói nghèo, để cứu lấy thân chứ không phải chuyện duyên số hay lập gia đình. Chuyện đó còn dài lắm còn tùy thuộc vào ông trời nữa, chuyện như thế ai mà tính trước được .

Xem thêm: 3 Lỗi Khiến Sạc Dự Phòng Không Vào Điện, Nguyên Nhân Tại Sao Sạc Dự Phòng Không Vào Điện

Tưởng chừng Thị là một người phụ nữ táo bạo vô duyên nhưng thực chất cũng vô cùng e lệ và suy nghĩ như một người phụ nữ. Cắp thúng con theo Tràng về, nàng dâu mới cũng bẽn lẽn theo sau, khi bị trêu chọc cũng e thẹn như bao nàng dâu mới khác. Về đến nhà, khi được Tràng mời ngồi thị chỉ ngồi mớm ở giường, tay vân vê và bộ mặt lộ rõ vẽ đầy lo lắng. Chắc có lẽ thị nghĩ về cuộc sống mới của hai vợ chồng, rồi cuộc đời của thị sẽ đi đến đâu.