CHINH PHỤ NGÂM - BÀI THƠ KHÚC CỦA ĐOÀN THỊ ĐIỂM

 

*
 
*
 
*

Chinh PhụNgâm (征婦吟) bằng Hán văncủa tác giả Đặng Trần Côn (1705-1745) viếttheo lối “trường đoản cú” đãđược diễn nôm (dịch sang Việt văn)bằng thể thơ “song thất lục bát” một cáchthần kỳ. Tuy nhiên cho đến nay, giữa hai danh tàiĐoàn Thị Điểm (1705-1749) và Phan Huy Ích (1751-1822), ailà người đích thực đã hoàn tất công trìnhdiễn nôm này vẫn chưa ngã ngũ. ƯU THẾ CỦA DỊCHPHẨM Tuy là dịchphẩm từ một nguyên tác bằng chữ Hán, ta cóthể nói không ngoa rằng bản Chinh Phụ Ngâm diễnnôm (tự hậu viết tắtCPNdn) là mộttuyệt tác văn chương Việt Nam. Đượcchuyển ngữ siêu việt với nhiều yếu tốsáng tác sang tiếng Việt qua lối viết chữ nôm, CPNdn đãlàm lu mờ danh tiếng nguyên tác viết bằng chữ Háncủa tác giả Đặng Trần Côn,cũngđược coi là một thi khúc thượngđẳng mà chủ đề là những lời than vãncủa một thiếu phụ có chồng đi chinhchiến lâu ngày chưa về.

Bạn đang xem: Chinh Phụ Ngâm - Bài Thơ Khúc Của Đoàn Thị Điểm

 Ưu thếcủa CPNdn thực dễ hiểu, vìngười diễn nôm đã dùng tiếng Việt chongười Việt đọc, với tất cả tinhtúy của tiếng Việt. Có lẽ chẳng mấy aibất đồng ý kiến với nhận địnhrằng thi ca chỉ có thể thực sựđược tận hưởng qua ngôn ngữ mẹđẻ của người thưởng lãm. Ưuthế này lại được tăng thêm bởi thểthơ song thất lục bát “mang âm hưởng quenthuộc của ca dao dân tộc, dễ đi sâu vào tâmhồn, vào cảm quan thẩm mỹ của đạichúng”<1> cộng với “cái giọngbuồn buồn đều đặn như khêu gợimong nhớ xa xôi có thể xem là rất thích hợpđể diễn tả tâm hồn chinh phụ.”<2> Thật vậy, tuychữ Hán khi phát âm kiểu HánViệt có nhiều từvựng quen biết, nó vẫn là một “ngoại ngữ”–chẳng khác gì Anh ngữ đối với ta. Đểminh chứng điều đó, ta chỉ cần lầnlượt đọc lên một đoạn nguyên tácbằng Hán ngữ (từ câu 136 tới câu 141) của tácgiả Đặng Trần Côn, phần dịch củahọc giả Huỳnh Sanh Thông sang Anh ngữ,<3>và phần chuyển sang Việtngữ trongCPNdn : Hán ngữ (ĐặngTrần Côn) 憶昔与君相別時  Ức tích dữquân tương biệt thì,柳條猶未囀黄鸝  Liễuđiều do vị chuyển hoàng ly.問君何日归 Vấn quân : Hà nhật quy?君約杜鹃啼 Quân ước : Đỗquyên đề.杜鹃已逐黄鸝老  Đỗ quyêndĩ trục hoàng ly lão,青柳楼前語意鴯  Thanh liễu lâutiền ngữ ý nhi. Anh ngữ (Huỳnh SanhThông) No orioles yet on willows– you set outand promised you’d comeback when cuckoos sang.Cuckoos have followedorioles grown old –before the house someswallows chirp and peep. Việt ngữ (diễn nôm)Thuở lâm hành, oanhchưa dạn liễu,Hỏi ngày về,ước nẻo quyên ca.Nay quyên đãgiục oanh già,Ý nhi lại gáytrước nhà líu lo. Trong phần cònlại của bài, người viết sẽ nhận diện vàkiểm điểm các yếu tố có lẽ đãđóng góp một phần không nhỏ vào sự thành côngthần kỳ của người đã chuyển nguyêntác Chinh Phụ Ngâm bằng chữ Háncủa tác giả Đặng Trần Côn sang tiếngViệt. Nỗ lực lượng giá các yếu tố quantrọng ấy sẽ tập trung vào từtuyển pháp (cách lựa chọn từ ngữ)và tu từ pháp (cách sử dụng cácbiện pháp tu từ) qua một phối cảnh ngữhọc.

Xem thêm: Tổng Hợp Trọn Bộ Tài Liệu Ôn Thi Thpt Quốc Gia Môn Tiếng Anh

 TỪ TUYỂN PHÁP (DICTION) <4>justify;text-justify:inter-ideograph;mso-line-height-alt:15.6pt"> Dịch giả cókhả năng bỏ qua điển tích Hán màvẫn giữ được ý chính của đoạnthơ chữ Hán. Trong buổi thảo luận (giữangười viết bài và nhà biên khảo Nguyễn BáTriệu năm 2000 tại Dallas)<5> về tài năng chuyểnngữ của dịch giả, chúng tôi có nhắcđến đoạn thơ dịch từ câu (068)đến (071) –trong đó một điển tích cầukỳ liên hệ đến khúc hát Mạch ThượngTang, đến nàng La Phu xinh đẹp đang đứnghái dâu, và đến ông vua Triệu Vương đa tình– đã được khéo léo bỏ qua bằng cách thaynó với câu chuyển nôm (069) gọn gàng và êm ái : Tương cốbất tương kiến 相顧不相見(068) Cùng trônglại mà cùng chẳng thấyThanh thanh mạchthượng tang青青陌上桑(069) Thấyxanh xanh những mấy ngàn dâuMạch thượng tang, mạchthượng tang! 陌上桑陌上桑(070) Ngàn dâu xanh ngắtmột mầuThiếp ý, quân tâm, thùy đoảntràng? 妾意君心谁短长(071) Lòng chàng ý thiếp aisầu hơn ai? Cũng trongchiều hướng Việt hóa tối đa trongthơ dịch, người diễn nôm không đảđộng đến chữ兮“hề” (mộttrợ ngữ từ có nghĩa là “vậy” hoặc“chứ”)đầy rẫy trong nguyên tác. Trong thí dụ dướiđây, hai câu Hán văn đều có chữ “hề”trong đó, nhưng dịch giả đã tránh né hai trợngữ từ “rất Hán” ấy khi diễn nôm :Vọng vânkhứ hề ! lang biệt thiếp =(051) Dấu chàng theo lớp mây đưaVọng sơnphụ hề ! thiếp tư lang = (052) Thiếpnhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhàDịch giả cóbiệt tài sử dụng từ ngữ Việtchính xác cho mỗi văn cảnh (literary context)để “dịch” cùng một từ ngữ Hán, thí dụnhư trong trường hợp từ kép điệp âm Hánvăn “du du” (viết là攸攸và悠悠) được“dịch” thành ba từ điệp ngữ (reduplicants)“thăm thẳm” /“dặc dặc” /“đau đáu” cho bavăn cảnh khác nhau : Du du bỉthương hề, thùy tạo nhân 攸攸彼苍兮谁造因(003) Xanhkia thăm thẳm từng trên,(004) vì ai gâydựng cho nên nỗi này Tống quân khứhề, tâm du du 送君去兮心悠悠(027) Đưachàng, lòng dặc dặc buồn Ức quân dudu hề, tứ hà khuy 憶君悠悠兮思何窺(249) Nỗichàng đau đáu nào xong Dịch giảcũng thường sử dụng các điệpngữ đối xứng trong hai câu thơnối tiếp nhau, khiến ý nghĩa của chúngđược nhấn mạnh và nâng cao : (368) Lònghứa quốc thắm son ngắt ngắt(369) Sứctí dân dường sắt trơ trơ (401) Sẽrót vơi lần lần đòi chén(402)  Sẽca dần ren rén từng liênTU TỪ PHÁP (RHETORIC) Các biện pháp tutừ (rhetorical devices) sử dụng nhiều trong CPNdn đượctrình bầy dưới đây qua phối cảnh ngữhọc (linguistic perspective) với lý giải và thí dụ đicùng. Ta sẽ thấy các biện pháp tu từ này –mặc dùmột số trong đó có tính cách ước lệ(conventionalized) – được dịch giả sửdụng hết sức ngoạn mục :justify;text-justify:inter-ideograph;mso-line-height-alt:15.6pt"> Biềnngẫu (semantic and syntactic parallelism) làmột biện pháp tu từ rất phổ cập trong thica Hán và Việt cổ điển. Biện pháp nàylấy“đối” (trong hình thức cũng như trong nộidung) làm nguyên tắc cơ bản, tạo cho lời vănsự nhịp nhàng cân đối. Trong CPNdn, đasố các cặp câu thơ bẩy chữ (song thất)phản ánh lối văn biền ngẫu. Ký hiệu“”dưới đây đọc là “ đốivới” :(53-54)      (97-98)  <ù ù>    Liên hoàn (enjambment) là thểthơ trong đó nhóm chữ cuối câu trên đượcnhắc lại thành nhóm chữ đầu câu dưới,mục đích để tiếp nối ý nghĩ chưahết ở cuối câu trên :(142-143) Gốchoa tàn đã trải rêu xanh / Rêu xanh mấylớp chung quanh(146-147) Bứcrèm thưa lần giải bóng dương / Bóngdương mấy buổi xuyên ngang Ví von (simile) là biệnpháp tu từ thường được sử dụngđể so sánh, với hiệu lực làm câu thơ thêmsinh động qua những hình ảnh ngoạnmục :(039-040) Áochàng đỏ tựa ráng pha / Ngựa chàngsắc trắng như là tuyết in (022) GieoThái Sơn nhẹ tựa hồng maoTươngphản (contrast) có mục đích làm chocâu thơ thêm hiệu quả diễn đạt. Kýhiệu “ >  (53-54)   > (177-178)   >  Biểutượng (metaphor) là biện pháp thay tênmột sự vật bằng tên một sự vật khác,với mục đích tăng sức gợi hình, gợicảm cho sự diễn đạt ý thơ : (136) Thuởlâm hành, oanh chưa dạn liễu,(137) Hỏi ngày về,ước nẻo quyên ca.(138) Nay quyên đãgiục oanh già,(139) Ý nhi lại gáytrước nhà líu lo.Theo văn cảnhcủa bốn câu thơ trên (để nói vềthời điểm trong năm) thì chim oanh làbiểu tượng cho mùa xuân, chim quyên cho mùa hạ, và chimén (ý nhi)<6> cho mùa thu. Ba loại chim nàyđồng thời cũng được nhân cách hóa(personified). Đảongữ (inversion) là biện pháp tu từ chođảo lộn vị thế xuất hiện thôngthường trong một câu, tức là  thành ra với mục đíchnhấn mạnh ý diễn tả. Trong hai câu thơdưới đây, chủ từ là “gió ” và “trăng”;động từ là “thổi ù ù” và “soi dõi dõi”; và túc từlà “hồn tử sĩ” và “mặt chinh phu”:(97)“Hồntử sĩ /gió / ù ù thổi” là đảo ngữcủa câu với vị thế xuất hiện thôngthường:“Gió/thổi ù ù / hồn tử sĩ”(98)“Mặt chinhphu / trăng / dõi dõi soi” là đảo ngữ củacâu với vị thế xuất hiện thông thường: “Trăng / soi dõi dõi /mặt chinh phu” Điệp ngữ (repetition) làbiện pháp tu từ cho lặp lại một từngữ, một nhóm chữ, hay cả câu để làm nổibật ý và gây cảm xúc mạnh :(254) Vìchàng lệ thiếp nhỏ đôi(255) Vìchàng thân thiếp lẻ loi một bề(225) Hoa giải nguyệt,nguyệt êm một tấm(226) Nguyệtlồng hoa, hoa thắm từng bông,(227) Nguyệthoa, hoa nguyệt trùng trùng,(228) Trước hoa, dưới nguyệttrong lòng xiết đauKhuếchđại (hyperbole) là biện pháp có mụcđích nhấn mạnh ý qua ngôn từ thậm xưngvượt quá xa sự thực :(216) Nhớchàng thăm thẳm đường lên bằngtrời(203) Khắcgiờ đằng đẵng như niên Cấu trúcđề // thuyết (topic // commentstructure) rất phổ cập trong ngữ pháp Việt Nam.Trong cấu trúc này, yếu tố“đề” bắt đầucâu với một đề tài, theo sau là yếu tố“thuyết” đểgiải thích đề tài ấy. Biện pháp tu từ nàylàm cho lời thơ dễ hiểu, tựa như “tiếng Việtnói” (spokenVietnamese) lúc bình thường :(353) Kìaloài sâu (đề) // đôi đầu cùngsánh (thuyết)(354) Nọloài chim (đề) // chắpcánh cùng bay (thuyết)(357) Ấyloài vật (đề) // tìnhduyên còn thế (thuyết)(358) Saokiếp người (đề) // nỡ đểđấy đây (thuyết) Câu hỏi tutừ (rhetorical question) là câu hỏi trống không– vì tác giả cố tình không cung cấp câutrả lời cho nó – cốt để gợi lên cácnỗi băn khoăn, xót xa, trăn trở cho ngườiđọc :(99) Chinhphu tử sĩ mấy người ?(100) Nàoai mạc mặt nào ai gọi hồn ?TÂM TƯ NGƯỜI VIẾTQua nhữngnhận xét về cách lựa chọn quyền biến phithường những từ ngữ phù hợp tốiđa cho mỗi văn cảnh, và cách sử dụngxuất chúng các biện pháp tu từ nêu trên, người viếttự thấy mình chẳng quá lời chút nào khi nóirằng Chinh PhụNgâm diễn nôm làmột công trình dịch thuật đã đạt tớimức thần kỳ. Dịch giả đã đểlại cho hậu thế một tuyệt tác làm cho ngườiđọc dễ nghĩ đến câu “Lời lời châungọc, hàng hàng gấm thêu” của thi hàoNguyễn Du trong Truyện Kiều.

Xem thêm: Uống Thuốc Tẩy Giun Có Đi Ngoài Ra Giun Không, Uống Thuốc Tẩy Giun Sau Bao Lâu Thì Được Ăn

  CƯỚC CHÚ <1> LêHữu Mục và Phạm Thị Nhung (2001): TiếngNói Đoàn Thị Điểm trong Chinh Phụ Ngâm Khúc.<2>Hà Như Chi (1951): Việt Nam Thi Văn GiảngLuận Toàn Tập.<3> Huỳnh Sanh Thông (1996): AnAnthology of Vietnamese Poems.<4> Để phần nào giúp cácđộc giả sinh trưởng tại hải ngoạidễ theo dõi bài viết hơn, mỗi từ ngữ chuyênmôn về văn học Việt sẽ có một từngữ tiếng Anh tương đương về ýnghĩa đi kèm.<5> Đàm Trung Pháp (2000): “GiớiThiệu Chinh Phụ Ngâm Tập Chú”củanhà biênkhảoNguyễn Bá Triệu.

<6> TựĐiển Hán-Việt Nguyễn Quốc Hùng: “Ý nhi 意而–Tên một loài chim, có thuyếtbảo là chim yến.” || Tự ĐiểnHán-Việt Thiều Chửu: “Ý nhi tức chim én.”